Tiểu luận: Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa và những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế ở Việt Nam

Mở đầu

1.Lý do chọn đề tài 

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây chúng ta đã không có được sự nhận thức đúng đắn về quy luật của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Cơ chế quan liêu, bao cấp đã bóp méo các yếu tố của quan hệ sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất, kết quả của sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã làm cho mâu thuẫn giữa chúng trở nên gay gắt. Điều đó khiến cho nền kinh tế Việt Nam phải ở trong tình trạng khủng hoảng, trì trệ một thời gian dài. Chính vì vậy, việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt là trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay. Với mong muốn tìm hiểu sự phát triển kinh tế tôi sẽ phân tích đề tài “Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa và những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế ở Việt Nam”. 

2.Tổng quan đề tài

Đề tài này đã có rất nhiều các tác giả, nhà kinh tế học, nhà nghiên cứu viết dưới nhiều hình thức khác nhau như sách, báo... 

3.Mục đích nghiên cứu đề tài 

Như đã nói ở trên, mục đích của em xuất phát từ mong muốn có thể hiểu được sâu và rộng hơn sự phát triển các nền kinh tế trên thế giới cũng như Việt Nam, đặc biệt là nền kinh tế hàng hóa. 

4.Phạm vi nghiên cứu đề tài 

Phạm vi nghiên cứu có hạn cho một bài luận nhỏ, bài này chỉ nêu được những vấn đề như sự biến đổi và hình thành nền kinh tế hàng hóa, vai trò, nội dung và ý nghĩa của quá trình hình thành nền kinh tế hàng hóa ngày này.

5.Phương pháp nghiên cứu đề tài

Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac-Leenin, Chính sách của Nhà nước, của Đảng Cộng Sản Việt Nam là cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu. 

6.Đóng góp của đề tài

Góp phần vào hệ thống những tài liệu tham khảo sau này. 7.Kết cấu bài tiểu luận. 

7.Kết cấu của đề tài 

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài này có phần nội dung gồm 3 chương.

Chương 1: Khái quát lý luận của Karl Marx về nền sản xuất hàng hóa

1. Khái niệm nền sản xuất hàng hóa

 Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để bán trên thị trường. Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất phân phối - trao đổi- tiêu dùng; sản xuất ra cái gì, như thế nào và cho ai đều thông qua việc mua bán, thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định. Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa người sản xuất này và người sản xuất khác do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định. Phân công lao động xã hội là việc phân chia người sản xuất vào các ngành nghề khác nhau của xã hội. Hoặc nói cách khác đó là chuyên môn hoá sản xuất. Do phân công lao động, xã hội nên mỗi người chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm nhất định. Song, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của mọi người đều cần có nhiều loại sản phẩm. Vì vậy họ đòi hỏi phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho nhau, phụ thuộc vào nhau. 

Trong lịch sử đã diễn ra 3 cuộc phân công lớn: 

+ Ngành chăn nuôi tách khỏi ngành trồng trọt. 

+ Ngành thủ công tách ra khỏi ngành nông nghiệp. 

+ Dẫn tới xuất hiện ngành thương nghiệp. 

2. Điều kiện tồn tại nền sản xuất hàng hóa

Phân công lao động xã hội là điều kiện của sản xuất hàng hoá. Điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hoá là sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản xuất do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định. Dựa vào điều kiện này mà người chủ tư liệu sản xuất có quyền quyết định việc sử dụng tư liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra. Như vậy quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã chia rẽ người sản xuất, làm họ tách biệt nhau về mặt kinh tế. Trong điều kiện đó người sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm của người sản xuất khác thì phải trao đổi sản phẩm lao động cho nhau. Sản phẩm lao động trở thành hàng hoá. Khi sản phẩm lao động trở thành hàng hoá thì người sản xuất trở thành người sản hàng hoá, lao động của người sản xuất hàng hoá vừa có tính chất xã hội, vừa có tính chất tư nhân, cá biệt. Tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hoá thể hiện ở chỗ do phân công lao động xã hội nên sản phẩm lao động của người này trở nên cần thiết cho người khác cần cho xã hội. 

Còn tính chất tư nhân cá biệt thể hiện ở chỗ sản xuất ra cái gì, bằng công cụ nào, phân phối cho ai là công việc cá nhân của chủ sở hữu về tư liệu sản xuất, do họ định đoạt. Tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa chỉ được thừa nhận khi họ tìm được người mua trên thị trường và bán được hàng hoá do họ sản xuất ra. Vì vậy, lao động của người sản xuất hàng hóa bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối lập là tính chất xã hội và tính chất cá nhân, cá biệt của lao động. Quá trình chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế đầu tiên mà loài người sử dụng để giải quyết vấn đề để sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai. Sản xuất tự cung tự cấp là kiểu tổ chức sản xuất mà trong đó sản phẩm của người lao động làm ra được dùng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nội bộ từng hộ gia đình, từng công xã hay từng cá nhân riêng lẻ. Sản xuất tự cung tự cấp còn được gọi là sản xuất tự cấp tự túc hoặc kinh tế tự nhiên. Đây là kiểu tổ chức sản xuất khép kín nên nó thường gắn với sự bảo thủ, trì trệ, nhu cầu thấp, kỹ thuật thô sơ lạc hậu. Nền kinh tế tự nhiên. tồn tại ở các giai đoạn phát triển thấp của xã hội (công xã nguyên thủy, nô lệ, phong kiến). 

3.Mâu thuẫn cơ bản là động lực phát triển nền sản xuất hàng hóa

 Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội và tính chất tự nhân, cá biệt của lao động sản xuất hàng hoá là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá. Đối với mỗi hàng hoá mâu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường. Đồng thời nó được tái tạo thường xuyên với tư cách là mâu thuẫn của nền kinh tế hàng hoá nói chung. Chính mâu thuẫn này là cơ sở của khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa. Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài. Đầu tiên là sản xuất hàng hoá giản đơn dựa trên kỹ thuật thủ công và lạc hậu. Nhưng khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn chuyển thành sản xuất hàng hoá quy mô lớn. Quá trình chuyển biến này diễn ra trong thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản. 

4.Ưu thế của sản xuất hàng hóa

 Thứ nhất , sự phát triển của sản xuất hàng hoá làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá ngày càng tăng,mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ. Từ đó, nó xoá bỏ tính tự cấp tự túc, bảo thủ trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình xã hội hoá sản xuất và lao động. Thứ hai , tính cách biệt kinh tế đòi hỏi người sản xuất hàng hoá phải năng động trong sản xuất, kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Muốn vậy, họ phải ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến quy cách, mẫu mã hàng hoá, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ... Từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Thứ ba , sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, với quy mô ngày càng lớn làm cho hiệu quả kinh tế đối với xã hội ngày càng cao và ưu thế của nó so với sản xuất nhỏ ngày càng tăng lên về quy mô, trình độ kỹ thuật và khả năng thoả mãn nhu cầu sản xuất hàng hoá quy mô lớn góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế ở trong nước và nước ngoài, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Với những tác dụng kể trên, hiện nay trên thế giới Có rất nhiều nước (trong đó có Việt Nam) đã và đang tập trung cho việc phát triển kinh tế hàng hoá.


Chương II Tác động của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa tại Việt Nam 

1.Giai đoạn nền kinh tế dựa trên mô hình kế hoạch hóa tập trung (đến năm 1986) 

1.1.Đặc điểm 

Nhà nước đảm nhận chủ yếu việc tạo ra của cải vật chất và phân phối của cải vật chất 

Nhà nước nắm giữ mọi nguồn lực và cơ sở kinh tế, công hữu là thống trị, các đơn vị sản xuất và công dân bị hạn chế sự tự chủ sản xuất kinh doanh

1.2.Thực tiễn 

Quy luật khách quan của thị trường không được tôn trọng, không tạo nên động lực sản xuất trì trệ, năng suất lao động thấp, khan hiếm hàng hóa, khủng hoảng kinh tế 

Kết quả sản xuất công nghiệp năm 1976 đạt giá trị tổng sản lượng tương đương 48 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1982). Trong đó, Công nghiệp nhóm A chiếm 34,1% và nhóm B chiếm 65,9%; quốc doanh chiếm 62,7%, tiểu thủ công nghiệp 37,3% và công nghiệp trung ương 44,2%, công nghiệp địa phương 55,8%. Những ngành then chốt của công nghiệp nặng chiếm tỷ trọng không lớn: năng lượng: 5,6%, luyện kim: 3,3%, cơ khí: 12,3%, hoá chất phân bón: 9,4%, vật liệu xây dựng: 6%. Công nghiệp nhóm B chỉ có lương thực và thực phẩm là ngành lớn nhất: 33,6%, dệt da may nhuộm: 14,5%. Thiết bị nhập từ nhiều nguồn, trong đó của 13 nước tư bản, chiếm 41%, của Liên Xô và Đông Âu 20%, trong nước chế tạo chỉ khoảng 13%. Về hiệu quả sản xuất, mức tích luỹ trên 1 đồng vốn tài sản cố định của công nghiệp trung ương là 0,25 đồng, hệ số tích luỹ của 100 đồng Vốn sản xuất là 33%, song chưa đạt mức ổn định của thời kỳ 1964-1965 của miền Bắc và năm 1970 của miền Nam. Tình trạng không sử dụng hết Công suất phổ biến, công nghiệp quốc doanh chỉ đạt 62%.Trong cơ cấu kinh tế quốc dân, Công nghiệp chiếm tỷ trọng 10,6% lao động xã hội, 37% giá trị tài sản cố định, làm ra 38,4% tổng sản phẩm xã hội, 25,3% GDP và 53% giá trị sản lượng công nông nghiệp. Nguồn nguyên liệu phụ thuộc nước ngoài, các ngành lệ thuộc hoàn toàn là cơ khí, hoá chất, dệt... 

2.Giai đoạn nền kinh tế chuyển sang mô hình kinh tế hàng hóa và xây dựng nền kinh tế thị trường

 2.1.Đặc điểm 

Nhà nước từng bước tách khỏi vai trò đảm nhận sản xuất của cải vật chất; chỉ đảm nhận vai trò tạo dựng môi trường pháp lý, chính sách, điều tiết vĩ mô và đầu tư công ích (từ thuế và các nguồn thu của Nhà nước) 

Đa dạng hóa các hình thức sở hữu, Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, kinh tế tư nhân ngày càng phát triển doanh nghiệp và công dân được tự chủ kinh doanh theo pháp luật, hội nhập, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế (để mở rộng thị trường và thu hút đầu tư) 

2.2.Thực tiễn 

Quy luật khách quan của thị trường phát huy tác dụng trở lại, tạo nên sự cạnh tranh và động lực thị trường ngày càng phát triển, thu hút nhiều nguồn đầu tư, kinh tế tăng trưởng, chất lượng cuộc sống được nâng cao ... Trong thời kỳ này, nhiều công trình tương đối lớn được xây dựng như các nhà máy nhiệt điện Phả Lại, thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Trị An; khu dầu khí Vũng Tầu; các nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Hà Tiên, nhà máy phân lân Lâm Thao; các nhà máy sợi Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang, các nhà máy đường Lam Sơn, La Ngà; các nhà máy giấy Bãi Bằng, Tân Mai... Giá trị tài sản ngành công nghiệp được tăng lên đáng kể: giai đoạn 1976 - 1980 tăng thêm 13 tỷ đồng, bằng 35% giá trị tài sản cố định mới tăng thêm thuộc khu vực sản xuất vật chất; giai đoạn 1981 - 1985 tăng 18,6 tỷ đồng, bằng 440 % tổng giá trị tài sản cố định thuộc khu vực này. Đồng thời, năng lực sản xuất mới của nhiều ngành công nghiệp cũng được nâng lên. Riêng thời kỳ 1981 - 1986, tăng thêm 456.000 kWh điện, 2,5 triệu tấn than, 2,1 triệu tấn xi măng, 33.000 tấn sợi, giấy 58.000 tấn, đặc biệt, dầu mỏ cũng bắt đầu được khai thác. 

Hội nhập ngày càng sâu rộng, vị thế quốc gia được nâng tầm ... Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Hoa Kỳ lập tức triển khai cấm vận kinh tế đối với Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ khoảng 1 năm sau, Hoa Kỳ đã có dấu hiệu muốn cải thiện quan hệ với Việt Nam. Henry Kissinger đề nghị Việt Nam cùng Hoa Kỳ thảo luận bình thường hóa quan hệ. Tổng thống Gerald Ford đề nghị Quốc hội Hoa Kỳ tạm ngừng cấm vận Việt Nam trong 6 tháng để tạo điều kiện cho trao đổi giữa 2 nước. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ thì đề ra lộ trình 3 bước bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Hoa Kỳ tuyên bố sẵn sang bỏ cấm vận Việt Nam và tiến hành viện trợ nhân đạo nếu Việt Nam trao trả hài cốt binh sĩ Hoa Kỳ và không đặt vấn đề bồi thường chiến tranh. Ngày 4 tháng 5 năm 1977, Hoa Kỳ đồng ý để Việt Nam vào Liên Hiệp Quốc Tây Âu sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam. Năm 1978, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Phạm Văn Đồng đi thăm một loạt nước Tây Âu. Đông Nam Á muốn tạo dựng mối quan hệ hữu nghị với Việt Nam. Năm 1977, Phạm Văn Đồng đi thăm các nước Philippines, Singapore, Thái Lan Dù có quan hệ quốc tế khá thuận lợi để đẩy mạnh hội nhập kinh tế rộng rãi, nhưng Việt Nam đã không tranh thủ. Năm 1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế. 


Chương III Một số khuyến nghị nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững nền kinh tế thị trường tại Việt Nam


1.Đối với Nhà nước 

Trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước cần tiến hành đổi mới hệ thống chính trị thích ứng với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo sự đồng thuận cao giữa các tầng lớp nhân dân trong triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Hướng chỉ đạo tập trung vào phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế, xem phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, phát triển; tích cực thí điểm nhiều mô hình, cơ chế, chính sách mới, từ đó rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình; mở rộng thị trường quốc tế, tạo điều kiện hợp tác quốc tế, đầu tư trong các lĩnh vực kinh tế. 

2.Đối với Doanh nghiệp 

Xây dựng cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu cùng phát triển; tiếp tục đổi mới và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; đổi mới việc kết hợp kinh tế với quốc phòng theo hướng xây dựng một số tổ hợp Công nghiệp quốc phòng; tiếp tục có cơ chế, chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế, nhất là khu vực kinh tế tư nhân, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. 3.Đối với xã hội Đẩy mạnh cải cách giáo dục theo hướng nâng cao dân trí và đào tạo, dạy nghề gắn với nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp; chủ động dự báo Cơ 

cấu lao động để có hướng đào tạo đội ngũ lao động có thể đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 


Kết Luận 

Do hội được các điều kiện thuận lợi khách quan và chủ quan, trong nước cũng như quốc tế Việt Nam đang trong giai đoạn có khả năng phát triển nhanh và bền vững. Để thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020: “Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước Công nghiệp theo hướng hiện đại”, chúng ta cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và hệ thống chính trị, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, trong đó có những giải pháp như đã đề xuất trên đây.Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, cũng như thực tiễn Việt Nam đã chứng minh rằng, khả năng phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế của một quốc gia, kể cả những nền kinh tế vốn rất nghèo tài nguyên thiên nhiên là hoàn toàn có thể. 

Danh mục tài liệu tham khảo 

1. Bộ giáo dục và đào tạo:Giáo trình Những NLCB của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia (2013) 

2. Chu Văn Cấp, Phạm Quang Phan, Trần Bình Trọng : Giáo Trình Kinh Tế Chính Trị Mác-Lênin | Nhà xuất bản Chính Trị (2006)

3. Nguyễn Văn Cường: Giải pháp phát triển bền vững nền kinh tế Việt Nam